Sign up
BA TÔI
phongnguyenduc | 27 Oct, 2009, 18:23 | Thơ Phong Nguyễn | (305 Reads)

   Thuở nhỏ, ngày nào tôi cũng đi chăn vịt cùng Ba. Cũng từ những ngày tháng lội bùn theo sau đàn vịt mà tôi có cả một ký ức quê mùa, rơm rạ, ký ức của những ngày còn lắm nổi gian nan. Ngày ấy, theo chân Ba ra đồng, đói lắm, lắm lúc ngồi trên bờ ruộng, nhìn cả một cách đồng trĩu lúa, tôi lại hỏi Ba những câu ngây ngô nhưng làm tim Ba đau nhói: Lúa chín cả đồng mà sao mình đói vậy Ba? Rồi khi cùng lùa vịt qua những đám ruộng đang gặt, người ta ăn giữa bữa, với những món gì tôi không còn nhớ, chỉ thấy một mùi thơm làm cho tôi thấy thèm, tôi đứng nhìn không muốn đi, Ba tôi khẽ kéo tay tôi đi thật nhanh, Ba không muốn tôi phải nhìn miệng người ta ăn. Lúc về nhà, Ba ngồi nói với tôi rằng, sau này con không được nhìn người ta ăn và không được ăn của người ta, dù cho họ mời. Tôi vâng lời Ba, và Ba nói một câu chắn chắn rằng: rồi mai mốt sẽ đỡ hơn con ạ! Các con sẽ đủ ăn đủ mặc.

   Tôi tin Ba tôi, một niềm tin son sắc, từ bấy đến nay, đã hơn hai mươi năm qua, tôi thật sự thoát nghèo, nhưng Ba tôi thì vẫn còn bao nỗi lo toan đến ngày nhắm mắt. Nỗi buồn đó cứ đeo đẳng lấy trong tôi suốt những năm qua.

   Bây giờ ngồi đây, giữa quê hương, trong tôi gợn lên nỗi nhớ cồn cào, nhớ thuở ấu thời với bao nỗi buồn cố cựu. Tôi trưởng thành là nhờ roi vọt của Ba, nếu không có sự nghiêm khắc từ Ba thì không biết bây giờ tôi sẽ ra sao? Những bài học làm người, những định hướng của Ba đã làm cho tôi tin vào con đường mình đi, và câu nói  "mai mốt sẽ đỡ con ạ!" bây giờ mới thực sự có ý nghĩa.

   Mấy năm rồi, kể từ ngày Ba bỏ chúng tôi ra đi, đêm đêm, tôi vẫn thường mơ thấy Ba về, có lúc thì cùng tôi đi dạo trên đường quê, có lúc thì nhìn tôi bằng gương mặt nghiêm nghị, có lúc lại nhìn tôi và cười với một nụ cười viên mãn, nhưng dù thấy Ba với tâm thế nào đi nữa thì sau khi tỉnh giấc, với tôi là một nỗi buồn khôn tả.

   Giờ đây, tôi về làm việc ở quê, được gần Mẹ, được gần gia đình bên vợ hiền, được chăm sóc, dạy dỗ các con, và được thường xuyên viếng mộ Ba. Với tôi, đó là niềm hạnh phúc.

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=193832

VIẾT SAU NGÀY BÃO LŨ
phongnguyenduc | 03 Oct, 2009, 19:05 | Thơ Phong Nguyễn | (268 Reads)
 

MIỀN TRUNG QUÊ TÔI

"Đời giông tố ngụ cư nhằm rốn bão

Làm sao biết và làm sao không biết

Bình yên nơi này là giông tố ở nơi kia"

Quê hương Tôi, miền Trung, cái khúc ruột của tổ quốc, nơi chịu bao mất mát trong chiến tranh và thiên tai nhiều nhất. Tôi đã yêu quê hương ấy, mảnh đất ấy, nơi đã sinh ra những con người tần tảo, chịu thương chịu khó và dung dị, những con người mộc mạc chân lấm tay bùn như Cha Mẹ tôi, đã thổi vào tâm hồn tôi một tình yêu vô tư với thiên nhiên, cảnh vật và tình người Miền Trung.

Thuở mười lăm, đã bao lần ý nghĩ phải từ bỏ chốn quê mùa lầy lội lắm nỗi gian truân ấy để đi đến một nơi, một nơi giàu có, không mưa gió bão bùng. Bây giờ nghĩ lại thấy mình thật ấu trĩ, nhỏ nhoi. Mà nghĩ lại thì có nơi nào bình yên đâu. Nơi thì bão lụt, nơi thì động đất, sóng thần, nơi không bão lụt, động đất thì nóng rát mặt người, có nơi thì chiến tranh, khủng bố. Trên quả đất này dường như chẳng một nơi nào tuyệt đối bình yên

Hôm nay tôi mới được thảnh thơi sau những ngày bão lũ, bình yên rồi lại đón chờ những ngày giông bão khác, tôi ngồi nhìn ngôi nhà nhỏ của mình mới vừa trải qua một cơn đại chấn, thương cho ngôi nhà, dường như hiểu thấu nỗi lo của tôi nên nó đã giồng mình trong cơn bão lớn và cơn sóng dữ. Tôi nhìn lên trần nhà, chỉ thấy bầu trời đen kịt, những tấm tôn đã bị cuồng phong cuốn đi, còn một số thì tả tơi, nó tả tơi như chính cuộc đời tôi hơn mười năm trước.

Mười bảy năm tôi là người nhà quê

Mười bốn năm tập làm người thành phố

Chợt thấy lòng mình tan tác, tái tê

Mười bốn năm lang thang giờ lại quay về

Đứng nép mình nơi cổng làng như một tên tội đồ sợ người đời bắt gặp

Chợt cuối làng bóng Mẹ liêu xiêu

Tôi lại trở về quê tìm lại những buổi chiều

Trên cánh đồng cùng em hát khúc đồng dao mùa lúa chín

Trăng quê và nỗi nhớ mơ hồ

Bỏ lại phố phường năm tháng cuồng xô

Về lại dòng sông ngày xưa ta tắm mát

Tìm lại tuổi thơ mình trên khúc sông quê

Quê hương ơi, giờ ta lại trở về.

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=188420

QUÊ NGOẠI (tt)
phongnguyenduc | 25 Sep, 2009, 22:28 | Thơ Phong Nguyễn | (113 Reads)
 QUÊ NGOẠI,  KHOẢNG LẶNG TRONG ĐỜI

Chiến tranh, qua hai cuộc chiến, sự mất mát với Ba Mẹ tôi là to lớn. Bà nội tôi bị lính Nam Triều Tiên bắn chết trong một trận càn. Bà ngoại tôi đã bị Tây bắn bị thương rất nặng, trước khi chết, bà còn dặn dò ông ngoại: Còn trẻ quá, lấy vợ đi, nhưng phải lo cho hai đứa (Cậu hai và mẹ tôi), rồi ngoại nhắm mắt. Lúc đó Ông ngoại tôi chưa đầy 30 tuổi, Mẹ tôi mới lên bảy, cậu hai trên mười tuổi. Rồi mấy năm sau, ông ngoại tục huyền với bà ngoại kế, nhưng có một điều, không có chuyện mẹ ghẻ con chồng, bà ngoại thương Mẹ tôi và cậu hai như con ruột, bà nuôi cậu hai ăn học thành người, cho Mẹ tôi học nghề may vá, cũng nhờ nghề may này mà sau giải phóng, về quê với Ba tôi, Mẹ nhận may áo quần cho những người trong xóm, Mẹ tôi may áo dài, áo bà ba đẹp lắm, nhưng quần Tây thì xấu cực kỳ, lúc tôi vừa vào cấp III mới có được một cái quần may ở tiệm, tiệm này cũng do một chị trong xóm mở gần nhà, còn những năm trước thì tất cả áo quần của anh chị em chúng tôi đều do Mẹ may hết, tôi ghét nhất là mặc quần do Mẹ may, nhưng không bao giờ tôi than vãn cả, sợ Mẹ buồn.

Bây giờ ngoại tôi đã xấp xỉ 100 tuổi, mỗi lần Mẹ tôi về là ngoại khóc, ngoại cứ nhắc lại cái ngày ông ngoại đi xa, ngày ấy cách đây đúng hai mươi năm, đó là một buổi chiều muộn, có người ở Bưu Điện mang điện tín đến nhà tôi, mẹ tôi đang ngồi thái chuối cho heo, nhận bức điện chỉ có vỏn vẹn mấy chữ: "Cha đau nặng, về gấp", Mẹ tôi khóc oà, Ba tôi đang ở ngoài sau hè, vội chạy vào, cũng rưng rưng, tủi phận. Vì sao? vì đã 9 năm (từ 1981-1990) Ba Mẹ tôi chưa một lần về thăm ngoại, chỉ chưa đầy 150 cây số mà sao quá đổi gian truân, vừa khó khăn về tiền bạc, vừa khó về thủ tục đi lại trong thời bao cấp. Bây giờ nhận một hung tin, mà trong nhà chẳng có gì đáng giá ngoài vài ang  lúa(1 ang có sức chứa  bằng 30 lon sữa bò) thì làm sao mà về được, thế là Ba tôi đi tìm người hỏi bán chậu mai cảnh đưa tiền cho Mẹ về quê (ba tôi có sở thích chơi cây cảnh, vừa là thú vui tao nhã, vừa có thể bán lấy tiền, nhưng có nhiều người mỉa mai: "đói mà bày đặt, trồng dây khoai lang vừa có lá cho heo, vừa có củ cho người ăn còn hơn trồng ba thứ cây quỷ đó". Ba tôi cười, không nói gì). Mẹ tôi về được một tuần thì ông ngoại ra đi. Tội lắm, khi thấy Mẹ về, ông ngoại ngồi dậy, đòi tắm rửa, ăn cháo, chống gậy ra vườn, mấy ngày sau Mẹ bảo phải về Quảng vì phải đi dặm lúa sạ, nhưng ông ngoại bảo mẹ: Nếu con về thì qua ngày 12 rồi hãy về, thế là đêm 11, ông ngoại đi luôn. Các dì các cậu bảo mẹ đánh điện cho Ba tôi về chịu tang, nhưng Mẹ không chịu cho Ba tôi biết tin, vì Mẹ biết rằng, ở nhà tôi chẳng còn gì đáng giá để đủ tiền cho ba một chuyến xe.

                                                                                                  (Còn nữa)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=186499

QUÊ NGOẠI
phongnguyenduc | 24 Sep, 2009, 18:01 | Thơ Phong Nguyễn | (116 Reads)
 

   Trước khi quyết định nghỉ việc về quê, Tôi có mấy ngày nghỉ phép, tôi đưa Mẹ cùng con gái đầu (chó Sulơ) về quê ngoại của tôi, đã mấy lần đưa vợ con về thăm quê ngoại, nhưng lần này tôi ở một tâm thế khác, của một con người đang hoài niệm về một thuở ấu thơ.

   Quê ngoại, Mẹ tôi đã từ giã cái làng quê ấy hơn bốn mươi năm, cái ngày ấy mẹ vẫn còn nhớ mãi, năm ấy Mẹ mới mười mấy tuổi, một buổi sáng sớm đi chợ, thấy một người thanh niên bị chặt đầu ngay trước cổng làng, nỗi sợ hãi làm Mẹ tôi không dám quay về làng nữa, mẹ đã đi vào Huế và gặp Cha tôi, rồi Mẹ theo Cha về Quảng Nam, một vùng đất trong chiến tranh ngút ngàn bom đạn.

   Bây giờ tôi lại về đây, tôi đã về rất nhiều lần, nhưng lần này tôi có cảm giác như không dễ gì mình về lại, trong lòng mình thấy một nỗi sợ hãi mơ hồ. (có lẽ vì vậy mà Tôi quyết định về quê làm việc để được gần Mẹ và vợ con)

   Chiều, một mình tôi đi dạo ra nghĩa trang, nghĩa trang nằm ngay hồ nước lớn, người ta ngăn hồ nước lại thành một cái đập tràn, nước dâng lên ngập chìm những ngôi một chôn ở mé hồ, đứng trên bờ nhìn thấy rất nhiều ngôi một chìm sâu trong lòng hồ. Chiều chiều, những bóng ma mờ ảo trên đường đê, bọn trẻ nít chăn trâu thường bị chết đuối vì những bóng ma ấy, ma biến thành những con cá thật to bơi dật dờ gần bờ hồ, ham cá nên bọn trẻ nhảy xuống bắt, và linh hồn chúng ở lại mãi mãi dưới lòng hồ lạnh lẽo.Hồ nước mênh mông, bên này là một rừng tràm bạt ngàn xứ sở, trong rừng tràm là khu nghĩa trang. Tôi đến nghiã trang vào lúc mặt trời sắp đi ngủ, ánh sáng phủ xuống mặt hồ, phản chiếu lên rừng tràm âm u, tạo nên một ánh sáng huyền bí, rờn rợn. Nơi đây, ông bà ngoại và các dì, cậu của tôi an nghĩ giấc ngàn thu. Tôi ngồi nhìn những nấm mộ khuất chìm trong rừng cây ấy. Ôi! những phận người, dù họ là ai, rồi cuối cùng cũng về một nơi, một nơi yên bình không hiềm tị ganh đua, một nơi có thể chôn kín được nỗi sầu nhân thế.

   Quê ngoại, nơi mà các cậu tôi gọi là địa linh, có Đình Phú Xuân, có làng cổ Phước Tích, có truông nhà Hồ, đó là những di chứng về một thời oai hùng của người xưa đi mở cõi Đàng Trong. Tôi về nơi địa linh nhân kiệt ấy, đã hơn ba mươi năm giải phóng, quê ngoại vẫn nghèo, vẫn đường mưa lầy lội, đứng bên này sông gọi với sang mời Cậu bơi thuyền qua đây làm vài chai, Sông Ô lâu chia hai bờ, bên kia là Huyện hải Lăng của Quảng Trị, bên này là Làng Mỹ Xuyên của Huyện Phong Điền-Tỉnh Thừa Thiên Huế, muốn đi về Làng Mỹ Xuyên phải đi qua cái eo của tỉnh Quảng Trị nên có một con đường chưa đầy 4m cũng phải gọi là Quốc lộ, đây là Quốc lộ 49B nối từ Mỹ Chánh đi về Mỹ Xuyên đến Điền Hải...

                                                   (Còn nữa)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=186171

ĐƯỜNG VỀ ÔI QUÁ DÀI!
phongnguyenduc | 22 Sep, 2009, 19:46 | Thời sự | (172 Reads)
 
Phôi pha-Trịnh Công Sơn


Người ta từ quê ra phố, còn tôi bỏ phố về quê

Quê hương, đã mười mấy năm, tôi lỡ cả trăm ngàn nỗi nhớ, nỗi thương và nỗi buồn thân phận

Tôi vẫn nhớ như in, cái ngày đầu tiên tôi khăn gói quả mướp rời quê. Cha ngồi lặng lẽ, trầm tư; Mẹ căm cụi nấu cháo heo nơi góc bếp, tôi đi. Tuổi hoa niên với bao hoài bảo, mong ước đổi đời, những năm tháng xa nhà, miệt mài, rồi cũng được một tấm bằng qua cửa.

Rồi từ đó, có việc làm, có thu nhập, được đi đây đó trên dải đất hình chữ S này,  rồi được nếm những món ăn mà từ thuở nhỏ đến lớn chưa một lần được thấy, chưa biết tên gọi. Ngon là vậy, nhưng trong lòng vẫn nhớ và thèm một bữa cơm Mẹ nấu với những món rau cà, cá rô đồng kho lá nghệ từ thở xa xưa.

Thời gian làm xoa dịu những nỗi buồn cố cựu, nhưng thời gian cũng làm cho tôi xa cách với những người tôi đã trân trọng, dấu yêu. Người Cha nhân từ, nghiêm khắc ngày xưa bây giờ đã đi về cõi không màu, chỉ còn lại một di ảnh lặng câm. Mẹ tôi bây giờ tóc đã trắng như khói lam chiều ngày đông lạnh lẽo.

Chiều nay, đưa các con dạo trên đường quê, tôi hít thật sâu cái không khí làng quê còn lắm nguyên sơ, ngồi lặng nhìn cánh đồng qua mùa thu hoạch, chỉ còn trơ lại những cuống rạ, chợt nghe lòng nặng nỗi riêng chung.

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=185657

LỜI GIÃ TỪ
phongnguyenduc | 15 Sep, 2009, 20:01 | Thời sự | (206 Reads)
 
Phong_Kasu



   Có lẽ rồi tôi sẽ từ giã thành phố này, cái nơi mà Tôi đã gắn bó hơn mười năm, và có lẽ tôi cũng từ giã nghiệp dĩ làm thầy của mình.Tôi lại về một nơi khác, kết thúc mười bốn năm ở Đà Nẵng, Bốn năm học+ mười năm ra trường  (8 năm làm nghề giáo). Mười bốn năm thấm những buồn vui, có được bao người bạn, bao thế hệ học trò. 

      ta về lại quê xưa

      có luỹ tre, mái đình, cây đa, giếng nước,

      có những nỗi buồn, có cả niềm vui,

      có hoa cỏ, ký ức, hồn quê rơm rạ,

      có em ru giấc ngũ chốn quê mùa,

   Phải nói là không dễ gì rời xa cái nghề mình yêu quý, đang là người lãnh đạo, đứng đầu trong một đơn vị đào tạo chuyên ngành Tin học được xếp thứ nhì ở TP Đà Nẵng (do Sở GD-ĐT TP.Đà Nẵng đánh giá). Tôi ra đi, sự tiếc nuối trong tôi rất nhiều, giống như một cuộc vui đang cao trào mà chỉ riêng mình bỏ cuộc, nhưng mười mấy năm nay, quê hương, Cha Mẹ và vợ con lúc nào cũng thôi thúc trong lòng tôi. Không thể lỗi hẹn thêm một lần nữa, tôi đã không kịp báo hiếu cho Cha, bây giờ còn Mẹ, Tôi phải về thôi!

"...Từ quê ra chốn thị thành

Mang theo chiếc áo phong phanh của làng

Không làm nên chuyện xênh xang

Cũng không góp chút rỡ ràng cho quê

Biết sông độ lượng tôi về

giọt lưu linh đã tái tê đủ đầy

cúi đầu tạ cỏ tạ cây

tạ con đường cũ luống cày khẳng khiu

Thưa quê con đã lỗi nhiều

Cúi xin Mẹ một lời yêu của làng"

Những học trò là tôi nhớ nhiều nhất, đây là bài hát tôi gởi đến những học trò của tôi, chúc các em thành công.

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=184208

VUI CƯỜI MỘT CHÚT
phongnguyenduc | 08 Sep, 2009, 11:16 | Thời sự | (121 Reads)

1. ĂN TRỘM

Có 3 thằng ăn trộm trái cây của vua, bị quân triều đình bắt được, bị quan xử như sau:

Thằng nào nuốt được trái cây mình ăn trộm mà không cười thì được tha.

Thằng thứ nhất nuốt hoài hông được trái quýt ->chém,

Thằng thứ hai nuốt trái nho xong, cười ->chém.

Hai thằng gặp nhau trên thiên đàng, thằng thứ nhất chửi thằng thứ hai:

- "Mẹ, có mỗi trái nho nuốt không xong là sao mày?"

Thằng thứ hai:

- "Tao nuốt xong rồi, tự nhiên quay qua, thấy thằng kia đang cầm trái sầu riêng ...nên ...hic ...tao cười.

2. THỂ DỤC


Cô giáo hỏi học sinh:

- Buổi sáng khi thức dậy em thường làm gì?

 Học sinh trả lời:

 - Em ra công viên tập thể dục ạ!

Cô giáo: - Tốt lắm, còn gì nữa không?

Học sinh: - Em nhìn thấy một anh đang đè một chị trong công viên.

Cô giáo: - Dừng lại đi.

Học sinh: - Em cũng bảo thế mà hai người không chịu dừng.

Cô giáo quát: - Thôi ngay.

Học sinh: - Em cũng quát thế nhưng mà chị ấy không thôi!

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=182567

NỖI KHỔ CỦA NÔNG DÂN
phongnguyenduc | 07 Sep, 2009, 16:32 | Thời sự | (156 Reads)
 

Mấy ngày nay mưa lũ mịt mù cả Miền Trung, từ sau lễ 2/9 đến nay. Chủ nhật tôi về quê, Mẹ tôi dự tính sẽ gặt lúa vào ngày này vì có anh chị em về làm giúp, nhưng nước ngập gần đến ngọn lúa, không thể thu hoạch được. Mẹ tôi ngồi thở ra: đến giờ mà Ổng (ông trời) không cho mình ăn, tôi cũng thấy lòng cay đắng.

Lại nói về nỗi khổ của những người nông dân, dường như không thể kể hết những vất vả của họ, ai đã tận mắt chứng kiến những bông lúa sắp đến ngày thu hoạch mà bị ngã chìm dưới nước mưa thì khó mà cầm được nỗi lòng.

Nhà tôi nằm giữa cánh đồng, những năm còn nhỏ, tôi cũng ra đồng phụ giúp cha mẹ, lớn lên chút nữa, tôi trở thành người nông dân thực sự, cũng đi làm đổi công với mọi người, cũng phơi nắng đạp máy tuốt lúa, cũng  cầm cuốc cuốc đất lật qua lật lại, cũng gồng mình gánh lúa về nhà và cũng gồng mình gánh phân ra đồng bón ruộng. Từ những năm tháng gian khổ đó, hơn ai hết, tôi đồng cảm với nỗi cơ cực của người nông dân.

Chiều, trời vẫn mưa không dứt, tôi chở vợ chạy xe về hướng xã Điện Thọ-Điện Bàn. Hai bên đường nước ngập bông lúa, một số thửa ruộng lúa bị ngã nằm bẹp dưới nước, người dân phải lội nước ngập đến bắp đùi để gặt, họ ôm từng nắm lúa đặt lên cao, nước chảy ròng ròng, lòng tôi thấy xót xa. Tôi bước xuống định chụp một tấm hình, một người dân cười như mếu hỏi tôi: Anh là nhà báo hả? Tôi bảo không. Bác ấy chỉ tay về phía cánh đồng ngập nước. Anh thấy không, kiểu này thì đói chết, cắt lúa ướt ni về không có nắng phơi thì cũng hư hết.

Quay xe về nhà, gặp một vị làm ở Xã vừa trong quán đi ra, mặt đỏ kè, vị này chào tôi, tôi hỏi: Xã mình có kế hoạch hướng dẫn nông dân khắc phục ngập úng trên ruộng không? vị này nhìn tôi lắc đầu. Vợ tôi ngồi sau xe nói: Anh hỏi làm gì, trời mưa thì đất chịu, dân chịu, sao lại hỏi quan xã, họ lo những việc lớn chứ!?

Tôi về, ngồi ngó ra, thấy bầu trời đen kịt, không biết những người nông dân, như Mẹ tôi, họ đang trông gì đây, có lẽ "trông cho chân cứng đá mềm, trời êm bể lặng mới yên tấm lòng"

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=182420

BÔNG HỒNG TRẮNG
phongnguyenduc | 03 Sep, 2009, 09:59 | Thời sự | (133 Reads)
 
Hôm nay ngày Vu Lan, ngày để con báo hiếu đấng sinh thành, thể hiện lòng hiếu thảo với Mẹ Cha. Nhắn gởi những ai, hãy yêu quý Cha Mẹ khi họ còn trên cõi đời này, lỡ mai kia Người khuất núi thì dù có thương nhớ ngàn lần cũng chỉ là không mà thôi.





Có mấy bài thơ từ khi còn sinh viên, viết tặng Mẹ, bây giờ đọc lại vẫn thấy rưng rưng

Cho Con tim Yêu
                 Kính tặng Mẹ
Đêm qua con không ngũ
Nhớ Mẹ quê nhà con lại thức làm thơ
Có Phải con xa nên hoài nỗi nhớ
Thương Mẹ thật nhiều sao mãi lặng câm

Ngày tháng theo cùng nuôi con khôn lớn
Khoai sắn quê hương nửa bát cơm gầy
Năm tháng nhọc nhằn nên nỗi buồn lay
Cứ mãi theo hoài trong con mỗi bước

Đêm qua con không ngũ được
bâng khuâng nỗi nhớ quê nhà
Thương những buổi chiều trên cánh đồng xa
Vai nặng Mẹ mang bao ngày gian khó

Nhớ ngày xưa con nguyện làm ngọn gió
Cuốn đi bao nỗi nhọc nhằn
Để mỗi đêm dài Mẹ khỏi boăn khoăn
Thương cho đàn con đói

Đêm qua chắc Mẹ già mệt mỏi
Con ở nơi xa nhớ Mẹ quê nhà
như Mẹ thương Con nhiều đêm không ngủ
Con biết làm sao bây giờ hỡi Mẹ?
Khi nỗi gian truân ném xuống cuộc đời
Chỉ biết rằng. Thương quá, Mẹ ơi!



NGHĨ VỀ CHA
Kính hương hồn Cha

Đứng trước biển con nghĩ về tình Mẹ
Rất mênh mông và rất đỗi hiền hoà
Nhìn lên trời những vầng mây cao lộng
Chẳng thể nào che kín được công Cha


Con tìm lại trong tháng ngày xưa cũ
Trong hư vô nỗi nhớ chẳng hao mòn
Hình bóng cũ cha già yêu thương quá
Tuy đã xa rồi nhưng vẫn mãi trong con


Con không  khóc bằng câu thơ và nước mắt
Mà con tim day dứt mỗi đêm về
Trong giấc ngũ Cha trở về hiện hữu
Đến lúc đêm tàn, con khóc gọi Cha ơi!


Bao đêm rồi vẫn giấc mơ hụt hẫng
Bao đêm rồi nước mắt chảy trong đêm
Con thèm sống như những ngày xưa cũ
Thuở có Cha ngày tháng thật êm đềm


Nghĩ về Cha một cuộc đời cao cả
Hy sinh nhiều và hy vọng xiết bao
Nhưng nỗi buồn nghìn thu Cha đeo đẳng
Để nghìn sau con mãi ứa lệ trào

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=181559

LÀM BÁO, KHÔNG ĐƯỢC HÈN!
phongnguyenduc | 28 Aug, 2009, 21:37 | Thời sự | (98 Reads)
 

Vừa rồi đọc một bài viết của nhà báo Huy Đức (Osin) với tiêu đề  "Bức tường Berlin" thấy hay quá, hay vì sự từng trải của ông ấy cộng với cái dũng trong một con người dám nói ra những sự thật mà đôi khi bị chôn kín.

Trước đây mình có viết một Entry " Làm báo, có thể dốt nhưng không được hèn" và hôm nay, mình lại một lần nữa khẳng định lại câu nói ấy, dù chưa phản ánh được tổng thể của vấn đề, nhưng cũng đáng suy nghĩ.
Nhà báo Huy Đức vừa bị mất việc vì những bài viết trên blog của ông ấy. Có lẽ có người sẽ nói đáng đời cha Huy Đức vì cái tội không đi đúng lề bên phải, không làm đúng chức trách của nghề báo là công cụ tuyên truyền của Đảng. Nhưng có một điều rằng, những bài viết từ gan ruột này sẽ đọng mãi trong lòng  người dân, nhà báo Huy Đức cũng sẽ mãi trong lòng người đọc.


Blog của nhà báo Huy Đức:

http://www.blogosin.org/

Dưới đây là bài viết "Bức tường Berlin" của ông

Tuần trước, một người Đông Đức, bà Angela Merkel, vừa lên tiếng trên cương vị Thủ tướng nước Đức thống nhất cám ơn Hungary cách đây 20 năm, tháng 8-1989, đã mở cửa biên giới của mình, để cho hơn 60 nghìn người Đông Đức thoát ra, dẫn tới sự kiện bức tường Berlin sụp đổ.

Tháng 6-2004, Hoàng- một đồng đội cũ của tôi ở trường sĩ quan, cựu đại úy quân đội nhân dân Việt Nam, con trai một vị tư lệnh chiến trường nổi tiếng thời đánh Mỹ và đánh Pol Pot- lái xe chở tôi chạy từ Đông sang Tây và cuối cùng đến trước bức tường Berlin. Hoàng nằm trong số những người Việt Nam đầu tiên leo qua phía Tây, thay vì đủ kiên nhẫn để đập đổ cái mà Hoàng, cho đến ngày nay, vẫn coi là "bức tường ô nhục".

Berlin cũng như nước Đức, sau Thế chiến thứ II, bị "xẻ làm tư" theo thỏa ước Potsdam. Cho dù Liên Xô phản đối, các nước Anh, Pháp, Mỹ sau đó vẫn trả lại quyền tự chủ cho người Đức trên phần lãnh thổ mà mình tiếp quản. "Kế hoạch Marshall" đã giúp Tây Đức phát triển rất nhanh dựa trên nền tảng tự do.

Năm 1948, Stalin ra lệnh phong tỏa, không cho vận chuyển lương thực thực phẩm từ Đông sang Tây. Nhưng vẫn không có người Tây Đức nào đi theo Stalin. Trong khi, trong suốt thập niên 50 đã có hơn 3,5 triệu người Đông Đức bỏ chạy sang Tây Đức. Ngày 1-8-1961, Tổng Bí thư Liên Xô, Krushchev, điện đàm với Ulbricht, Bí thư thứ nhất Đông Đức "đề nghị xây tường". Ngày 12-8 năm đó, Ulbricht ký lệnh đóng cửa biên giới và "bức tường ô nhục" đã được người Đức cùng với "Hồng Quân Liên xô" nửa đêm "dựng lên lén lút".

Bảo tàng Bức tường Berlin là một trong những bảo tàng vô cùng ấn tượng. Có thể tìm thấy ở đây những sự kiện bi thảm; nhưng, cũng có thể tìm thấy ở đây những câu chuyện hết sức li kỳ. Chỉ có với khát khao tự do con người mới có thể bất chấp sự hiểm nguy mà vượt thoát mãnh liệt đến vậy. Lượng người dân Đông Đức bị bắn chết khi trèo qua bức tường Berlin không dừng lại ở con số 1.374; mới đây, Bảo tàng vừa cho bổ sung vào danh sách này những người không phải là dân "vượt biên" mà là lính biên phòng Đông Đức. Hàng chục lính biên phòng Đông Đức đã tự sát thay vì chấp hành lệnh chính quyền bắn vào nhân dân, những người tìm kiếm tự do.

Chỉ cần đến Bảo tàng Bức tường Berlin là có thể hiểu vì sao cả Đông Âu, tràn ngập xe tăng Liên Xô, thế mà vẫn đổ; có thể hiểu vì sao Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu lấy ngày "23 tháng Tám là ngày tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và Phát xít". Ngày 23-8-1939, Stalin đã bắt tay với Hitler, ký Hiệp ước phân chia Châu Âu. Chỉ một tuần sau, ngày 1-9-1939, Hitler đánh chiếm một phần Ba Lan; ngày 17-9-1939, Liên Xô xâm lược phần còn lại. Người của Stalin, ngay sau đó đã giết hại hàng trăm nghìn người Ba Lan và đưa hơn một triệu người Ba Lan khác lưu đày viễn xứ.

Nếu như, chủ nghĩa Hitler chỉ kịp gây tội ác trong những năm tháng chiến tranh thì chủ nghĩa Stalin lại tiếp tục hủy hoại con người ngay cả khi không còn tiếng súng. Sự hy sinh của hơn 20 triệu người Liên Xô, sự anh dũng của các tướng lĩnh, của Hồng quân là vô cùng vĩ đại. Nhưng, sự hy sinh ấy của nhân dân đã bị những người như Stalin tước đoạt. Liên Xô, quốc gia đóng vài trò quyết định trong cuộc chiến chống Phát xít, thay vì được ghi nhớ như là "giải phóng quân" đã trở thành một lực lượng chiếm đóng và đã áp đặt lên Đông Âu một chế độ tước đoạt hết của con người những quyền căn bản.

Tại Đông Đức, sau 8 năm chiếm đóng, chính quyền do người Nga lập nên liên tục có những hoạt động thanh trừng nội bộ; khủng bố những người bất đồng; kiểm soát thanh niên; trong khi, thực phẩm thì khan hiếm và đắt đỏ. Sau khi Stalin chết, hơn 1 triệu người dân Đông Đức đã xuống đường biểu tình. Chính phủ Đông Đức rút chạy vào tổng hành dinh của Hồng quân Liên Xô. Chính họ đã cầu cứu và "ngoại bang" đã dùng xe tăng thẳng tay đàn áp cuộc chống đối đâu tiên của nhân dân ấy.

Tại Hungary, sau năm 1945, cuộc bầu cử dân chủ chỉ đem lại cho đảng cộng sản Hungary 17%. Nhưng ngay sau đó, "toàn quyền Liên xô", tướng Kliment Voroshilov đã buộc một thành viên không đảng phái trao ghế Bộ trưởng Nội vụ cho László Rajk, người của đảng cộng sản Hungary. László Rajk đã lập ra cơ quan an ninh quốc gia sử dụng cách mà Hitler đã làm trong thập niên 30: vu cáo, bắt bớ, tra tấn... tiêu diệt dần đối lập. Ngày 23-10-1956, người Hungary đứng dậy hô to "không cam chịu làm nô lệ nữa". Nhưng, ngày 4-11-1956, xe tăng Liên Xô nghiến nát cuộc chính biến sau khi máy bay ném bom xuống Thủ đô Budapest: 2.500 người Hung bị giết; 200 nghìn người khác phải trốn khỏi quê hương.

Sự ngột ngạt về chính trị và bế tắc về kinh tế trở thành tình trạng phổ biến ở Đông Âu. Năm 1967, sau khi trở thành Bí thư thứ Nhất Tiệp Khắc, Alexander Dubcek tiến hành cải cách. Dubcek cho phát triển kinh tế tự chủ hơn; các tù nhân chính trị được tha và báo chí bắt đầu có tiếng nói. Không chủ trương đa đảng, Dubcek chỉ có ý định xây dựng "chủ nghĩa xã hội nhân bản hơn". Tuy nhiên, những nỗ lực của Dubcek càng mang lại sự thịnh vượng cho nhân dân thì lại càng gây lo lắng cho Liên Xô. Cho dù không có "nổi dậy", đêm 20-8-1968, xe tăng Liên Xô vẫn tiến vào Praha theo sau bởi hơn 165 nghìn quân của khối Warsava.

Tại bảo tàng Bức tường Berlin, có một đoạn video gần như được liên tục phát, đó là trích đoạn phát biểu ngày 12-6-1987 của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan: "Mr. Gorbachev, hãy phá bỏ bức tường này". Thật khó để xác định ai là người đóng vai trò chính để kết thúc chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, có thể bức tường Berlin đã không sụp đổ nếu như tháng 3-1989, Thủ tướng Hungary, Miklos Nemeth, khi có ý định "tháo gỡ hàng rào kẽm gai dọc theo biên giới" không nhận được tín hiệu từ ông Gorbachev: "Vấn đề an ninh biên giới là việc của ông Nemeth".

Không có một dân tộc nào không nuôi khát vọng tự do ngay cả dưới họng súng của xe tăng và đại bác. Câu trả lời của ông Gorbachev đơn giản chỉ là trả cho người Hungary quyền tự quyết. Cái quyền mà người dân Đông Âu lẽ ra phải được hưởng kể từ 1945.

Cũng trong tháng 6-2004, tôi có đi qua một vài nghĩa trang quân Đồng Minh chết sau sự kiện Normandy. Những tấm bia ở đây nói rõ là nghĩa trang được lập bởi dân chúng địa phương góp đất và tiền để tưởng nhớ những người lính Anh, Mỹ, New Zeland, Australia... Những "nghĩa trang dân lập" ấy vẫn được gìn giữ cho đến ngày nay với hoa tươi quanh năm. Trong khi, năm 2007, Tổng thống Nga Putin bị các quốc gia lân bang đặt trước tình huống phải ký sắc lệnh lập 7 văn phòng đại diện tại Ba Lan, Hungary và các nước vùng Baltic để bảo vệ mộ của Hồng quân. Thật không phải khi đụng đến nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Nhưng, cái cách mà Putin cư xử với lân bang đã khiến họ nhớ lại thời Liên Xô và nhận thấy những tượng đài Hồng quân "không còn là một biểu tượng chống phát xít mà là biểu tượng của sự chiếm đóng".

Bên cạnh những bao cát của Checkpoint Charlie, chốt gác giữa Đông và Tây Berlin, cũng luôn có hoa tươi. Có lẽ ngay chính người Mỹ, sau những chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Iraq, cũng thèm khát hình ảnh của chính mình trên bờ biển Normandy hay ở cái Checkpoint Charlie ấy. Từng là một người lính ở Campuchia tôi hiểu, không có người lính nào sẵn sàng hy sinh nếu không nghĩ, sứ mệnh của mình là giải phóng. Nhưng, không chỉ những người đã nằm xuống, người lính thường kết thúc sứ mệnh sau khi buông súng, mà những việc có ảnh hưởng tới "các giá trị thiêng liêng" khi ấy mới thực sự bắt đầu. Một cuộc chiến không còn được coi là "giải phóng" nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do.

Huy Đức


http://vi.wikipedia.org

Huy Đức là một nhà báo Việt Nam, có tên thật là Trương Huy San. Huy Đức được xem là một trong những nhà báo điển hình nhất của báo chí hiện đại cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. Huy Đức là người gốc Hà Tĩnh, sinh sống và làm việc tại TP HCM.

Huy Đức từng là phóng viên báo Tuổi trẻ, Nông thôn Ngày nay, Thời báo Kinh tế Sài GònSài Gòn Tiếp thị.

Bút danh Huy Đức bắt đầu được công chúng biết đến khi nhà báo này là phóng viên điều tra phanh phui vụ Đường Sơn Quán; một địa điểm ăn chơi nổi tiếng của nhiều cán bộ cấp cao ở TPHCM. Cây bút này cũng được biết đến như một cây bút chống tiêu cực qua rất nhiều vụ án nổi tiếng với các bài viết có sức nặng đăng trên báo Tuổi trẻ. Huy Đức khá nổi tiếng với thể loại phỏng vấn.

Từng là bộ đội, Huy Đức có hơn 3 năm ở Campuchia trong giai đoạn chiến tranh, và "biết câu chuyện Khmer Đỏ chống lại Việt Nam chỉ 2 tuần sau khi nhờ Việt Nam mà có trong tay quyền bính"[1].

Khi bắt đầu làm việc với báo Sài Gòn Tiếp thị, Huy Đức cũng bắt đầu trở thành một bloger nổi tiếng, luôn có số người truy cập trang và comment thuộc loại cao nhất. Tuy nhiên, cũng một phần do blog, ngày 25/8/2009, ông đã phải chấp thuận thôi việc tại báo Sài Gòn Tiếp thị[2] sau khi "có nhiều bài viết mang tính chất thử thách giới hạn của tự do ngôn luận ở Việt Nam" (Hãng thông tấn AP)[3]

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=180583

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10  Sau»